Nghiên cứu trao đổi

Nghị định số 102/2017/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm được ban hành - Kết quả quan trọng của Bộ Tư pháp trong việc triển khai thi hành Bộ luật dân sự 2015

Ngày 01/9/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 102/2017/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm (có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2017). Việc ban hành Nghị định nêu trên là kết quả quan trọng của Bộ Tư pháp trong việc triển khai thi hành Bộ luật dân sự 2015, đặc biêt là các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong đó có quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm, qua đó góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện, thống nhất pháp luật trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân khi tìm hiểu, áp dụng. Những quy định mang tính cải cách của Nghị định số 102/2017/NĐ-CP góp phần tạo điều kiện cho việc đăng ký được tiến hành chính xác, nhanh chóng, thuận lợi, qua đó tiết kiệm thời gian, chi phí của xã hội, thúc đẩy hoạt động tín dụng phát triển và nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế.

Nghị định số 102/2017/NĐ-CP bao gồm 5 chương, 70 điều, trong đó các quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm tập trung có một số điểm mới cơ bản sau đây:

Về tên gọi, tên gọi của Nghị định có sự thay đổi so với Nghị định số 83/2010/NĐ-CP là do Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 292 và khoản 3 Điều 298) sử dụng cụm từ “biện pháp bảo đảm và đăng ký biện pháp bảo đảm” thay cho cụm từ “giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm” được quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005.

Về đối tượng đăng ký, Nghị định số 102/2017/NĐ-CP (Điều 4) đã bổ sung biện pháp bảo lưu quyền sở hữu thuộc đối tượng đăng ký, đồng thời, Nghị định cũng tách bạch rõ các biện pháp bảo đảm phải đăng ký (gồm: thế chấp quyền sử dụng đất; thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay; thế chấp tàu biển) và các biện pháp bảo đảm được đăng ký theo yêu cầu (gồm: thế chấp tài sản là động sản khác; thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; bảo lưu quyền sở hữu trong trường hợp mua bán tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; mua bán tàu bay, tàu biển; mua bán tài sản là động sản khác có bảo lưu quyền sở hữu).

Về thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm, để phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, Luật đất đai năm 2013, Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Bộ luật hàng hải Việt Nam, Nghị định số 102/2017/NĐ-CP (Điều 5) quy định thời điểm có hiệu lực của biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tàu bay, tàu biển được đăng ký là thời điểm cơ quan đăng ký ghi nội dung đăng ký vào sổ đăng ký còn đối với biện pháp bảo đảm bằng động sản khác thì thời điểm có hiệu lực của việc đăng ký là thời điểm nội dung đăng ký được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm.

Về từ chối đăng ký, trên cơ sở kế thừa những quy định còn phù hợp của Nghị định số 83/2010/NĐ-CP (như việc đăng ký không thuộc thẩm quyền, khi phát hiện thông tin trong hồ sơ đăng ký không phù hợp với thông tin được lưu giữ tại cơ quan đăng ký hoặc có giấy tờ giả mạo, người yêu cầu đăng ký không nộp phí đăng ký… ), Điều 15 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP cũng quy định bổ sung thêm một số căn cứ từ chối như: khi cơ quan đăng ký nhận được văn bản của Chấp hành viên của cơ quan thi hành án dân sự hoặc Thừa phát lại của Văn phòng thừa phát lại yêu cầu tạm dừng hoặc dừng việc đăng ký đối với tài sản bảo đảm mà bên bảo đảm là người phải thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; khi cơ quan đăng ký nhận được văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án là tài sản bảo đảm do cơ quan thi hành án hoặc Văn phòng thừa phát lại gửi đến.

Về trình tự, thủ tục đăng ký, ngoài việc quy định về thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm lần đầu, Nghị định số 102/2017/NĐ-CP còn quy định về thủ tục đăng ký biến động (như đăng ký thay đổi, đăng ký văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm, sửa chữa sai sót nội dung biện pháp bảo đảm đã đăng ký do lỗi của cơ quan đăng ký, xóa đăng ký) liên quan đến biện pháp bảo đảm đã đăng ký, cấp bản sao văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm (Điều 30, Điều 38, Điều 48). Đối với thủ tục đăng ký thế chấp dự án đầu tư xây dựng nhà ở, nhà ở hình thành trong tương lai, để có căn cứ chứng minh các loại tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai này đang và sẽ hình thành trên thực tế, Nghị định đã bổ sung quy định về hồ sơ bao gồm các loại giấy tờ sau: Quyết định giao đất, cho thuê đất; bản vẽ thiết kế thể hiện được mặt bằng công trình của dự án; hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai; văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở...  Đối với thủ tục đăng ký thế chấp tài sản gắn liền với đất không phải là nhà ở đã hình thành nhưng chưa được chứng nhận quyền sở hữu trên giấy chứng nhận, Điều 41 Nghị định đã bổ sung quy định về hồ sơ đăng ký thế chấp trong hai trường hợp chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất là một chủ thể hoặc hai chủ thể khác nhau. Theo đó, người yêu cầu đăng ký nộp đồng thời hồ sơ đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và hồ sơ đề nghị chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

Về cung cấp thông tin biện pháp bảo đảm, để cụ thể hóa tinh thần của Luật tiếp cận thông tin năm 2016 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2018) và đảm bảo các thông tin liên quan đến tài sản bảo đảm, đăng ký biện pháp bảo đảm được công khai, minh bạch và có tính tiếp cận cao, ngoài việc quy định cung cấp thông tin theo yêu cầu của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, Điều 64 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP quy định cơ chế chủ động công khai thông tin đã đăng ký của Văn phòng đăng ký đất đai như sau: Chậm nhất là 5 ngày làm việc, kể từ thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm bằng dự án đầu tư xây dựng nhà ở, dự án đầu tư xây dựng công trình, Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm gửi thông tin cho Sở Tài nguyên và Môi trường để công bố trên Trang thông tin điện tử của Sở. Thông tin được công bố gồm: Tên dự án, địa chỉ của dự án, bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm, tài sản bảo đảm, thời điểm đăng ký.

Về trao đổi thông tin trình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm, Điều 63 Nghị định cũng quy định rõ về thủ tục và trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc trao đổi thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm, theo đó trong thời hạn 01 ngày làm việc, các cơ quan có thẩm quyền nhận được văn bản trao đổi thông tin hợp lệ phải cập nhật vào dữ liệu quản lý tài sản của cơ quan mình. Phạm vi thông tin về tài sản bảo đảm do cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm trao đổi bao gồm: bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm; tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện thủy nội địa, phương tiện giao thông đường sắt, quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tàu bay, tàu biển; thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm. Phạm vi thông tin do cơ quan thi hành án dân sự, Văn phòng thừa phát lại trao đổi bao gồm: Quyết định kê biên hoặc Quyết định giải tỏa kê biên tài sản thi hành án; người phải thi hành án và chủ sở hữu tài sản; tài sản kê biên.

Về quản lý nhà nước trong công tác đăng ký biện pháp bảo đảm, để tạo cơ sở cho việc thực hiện đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng tàu bay, tàu biển và quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, Nghị định đã quy định trách nhiệm của Bộ Giao thông vận tải tổ chức triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về tàu bay, tàu biển hoàn thành trước năm 2020, trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về đất đai hoàn thành trước năm 2025. Nghị định cũng quy định trách nhiệm của Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng, vận hành và quản lý Hệ thống dữ liệu quốc gia về biện pháp bảo đảm.

 
Phùng Bá Đáng
Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm